Thông báo Lịch họp Hội đồng đánh giá Seminar tổng thể luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thắng chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Bộ môn tiếng Anh, Khóa QH2020 đợt 2
Trường Đại học Ngoại ngữ – ĐHQGHN tổ chức Hội đồng đánh giá Seminar tổng thể luận án tiến sĩ của nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Thắng chuyên ngành Lí luận và phương pháp dạy học Bộ môn tiếng Anh, Khóa QH2020 đợt 2, cụ thể:
Đề tài: Exploring Tertiary EFL Learners’ Experiences with Technological Tools in their Foreign Language Learning: A Positive Psychology Perspective (Khám phá trải nghiệm của người học tiếng Anh bậc đại học với các công cụ công nghệ trong quá trình học ngoại ngữ: Góc nhìn tâm lý học tích cực)
Ngành/Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học Bộ môn tiếng Anh
Mã số: 9140231.01
Cán bộ hướng dẫn khoa học:
Cán bộ hướng dẫn: GS. TS. Hoàng Văn Vân
TS. Huỳnh Anh Tuấn
Thời gian: 14h00 Thứ Ba, ngày 21 tháng 07 năm 2026
Địa điểm: Phòng 509A, Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Quốc gia Hà Nội
THÔNG TIN LUẬN ÁN TIẾN SĨ
1. Họ và tên nghiên cứu sinh: Nguyễn Văn Thắng
2. Giới tính: Nam
3. Ngày sinh: 30/05/1988
4. Nơi sinh: Hải Phòng
5. Quyết định công nhận nghiên cứu sinh số: Quyết định số 2326/QĐ-ĐHNN ngày 21/12/2020 của Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ.
6. Các thay đổi trong quá trình đào tạo:
– Quyết định số 865/QĐ-ĐHNN ngày 18 tháng 4 năm 2022, và Quyết định số 1348/QĐ-ĐHNN ngày 06 tháng 7 năm 2022 của Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ về việc cho phép NCS khóa QH2020 đợt 2 chỉnh sửa tên đề tài;
– Quyết định số 2286/QĐ-ĐHNN ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Hiệu trưởng Trường Đại học Ngoại ngữ về việc cho phép NCS khóa QH2020 đợt 2 gia hạn học tập.
7. Tên đề tài luận án: Khám phá trải nghiệm của người học tiếng Anh bậc đại học với các công cụ công nghệ trong quá trình học ngoại ngữ: Góc nhìn tâm lý học tích cực
8. Chuyên ngành: Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn tiếng Anh
9. Mã số: 9140231.01
10. Cán bộ hướng dẫn khoa học: 1. GS. TS. Hoàng Văn Vân
2. TS. Huỳnh Anh Tuấn
11. Tóm tắt các kết quả mới của luận án:
Kết quả nghiên cứu cho thấy các công cụ công nghệ có thể thúc đẩy đồng thời năm thành tố của tâm lý học tích cực theo mô hình PERMA (Seligman, 2011), gồm cảm xúc tích cực (Positive emotions), sự tham kết (Engagement), các mối quan hệ (Relationships), ý nghĩa (Meaning) và thành tựu (Accomplishment). Các nguồn đa phương tiện, hoạt động trò chơi hóa và nội dung giải trí – giáo dục khơi gợi niềm vui, sự tò mò, hứng thú, đồng thời làm giảm cảm giác lo âu và nhàm chán. Khả năng học linh hoạt, luyện tập riêng tư trong môi trường ít rủi ro, điều chỉnh nhịp độ học, nhận phản hồi tức thì và được hỗ trợ cá nhân hóa giúp người học tự tin hơn, duy trì sự tập trung, hình thành thói quen học tập và chủ động điều chỉnh quá trình học. Các nền tảng trực tuyến và không gian cộng tác mở rộng sự hiện diện của giảng viên, hỗ trợ hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa bạn học, qua đó củng cố cảm giác thuộc về. Đồng thời, nguồn ngữ liệu xác thực, cơ hội sử dụng tiếng Anh trong các tình huống thực tế và sự liên hệ với mục tiêu học tập, nghề nghiệp tương lai làm cho việc học trở nên có ý nghĩa hơn; còn các chỉ báo tiến bộ, phản hồi và sản phẩm học tập giúp người học nhận thấy sự phát triển của bản thân và hình thành cảm giác thành tựu.
Điểm đáng chú ý là tác động tích cực không xuất phát đơn thuần từ việc “có sử dụng công nghệ”, mà chủ yếu được tạo nên bởi các cơ chế và điều kiện sư phạm cụ thể của công cụ, như luyện tập ít áp lực, luyện tập riêng tư, quyền tự chủ, phản hồi kịp thời, đầu vào xác thực, tương tác xã hội và sự tiến bộ có thể quan sát được. Các cơ chế này thường tác động liên hoàn giữa các thành tố PERMA: cảm xúc tích cực có thể mở rộng sự sẵn sàng tham gia; sự tham kết bền vững tạo điều kiện cho tiến bộ; tiến bộ được ghi nhận lại củng cố sự tự tin, ý nghĩa và động lực tiếp tục học. Luận án đồng thời làm rõ sự khác biệt giữa cảm xúc tích cực mang tính thời điểm và sự tham kết cảm xúc như một trạng thái tham gia có tính duy trì, qua đó tránh đồng nhất niềm vui nhất thời với mức độ gắn bó bền vững trong học tập.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra tính hai mặt (thúc đẩy và cản trở), có điều kiện và phụ thuộc bối cảnh của việc sử dụng công cụ công nghệ. Sự cố kỹ thuật và hạ tầng trước hết gây lo lắng, bực bội và đứt gãy tập trung, sau đó có thể làm suy yếu tương tác, ý nghĩa học tập và cảm nhận thành tựu. Sự phân mảnh chú ý, xao nhãng số và quá tải nhận thức làm giảm mức độ tham kết; sự thiếu hụt hiện diện xã hội và khó khăn phối hợp làm suy yếu các mối quan hệ và cảm xúc tích cực; tiêu chí đánh giá không rõ ràng, mất dữ liệu hoặc nộp bài bị gián đoạn có thể khiến kết quả phản ánh điều kiện kỹ thuật hơn là năng lực ngôn ngữ thực tế. Đặc biệt, việc sử dụng AI và công cụ dịch có thể hỗ trợ tạo khung sườn (scaffold) và luyện tập khi được dùng có chủ đích, nhưng có thể trở thành con đường “đi tắt” và thay thế nỗ lực nhận thức nếu người học phụ thuộc quá mức, từ đó làm giảm chiều sâu học tập, ý nghĩa và thành tựu thực chất. Những phát hiện này góp phần cung cấp một cách hiểu toàn diện, dựa trên cơ chế, về cách công nghệ vừa thúc đẩy vừa cản trở tâm lý học tích cực của người học tiếng Anh không chuyên trong bối cảnh giáo dục đại học Việt Nam.
12. Ứng dụng thực tiễn
Nghiên cứu này có khả năng ứng dụng trong việc định hướng tích hợp công cụ công nghệ vào dạy và học tiếng Anh cho sinh viên không chuyên tại các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam theo hướng vừa nâng cao hiệu quả học tập, vừa quan tâm đến sự phát triển tâm lý tích cực của người học.
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý giáo dục trong việc xây dựng hệ sinh thái học tập số có khả năng hỗ trợ các thành tố PERMA. Việc đầu tư hạ tầng, bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng, hỗ trợ kỹ thuật kịp thời và phát triển năng lực số cần được thực hiện đồng thời với việc đưa các chỉ báo về cảm xúc tích cực, sự tham kết, kết nối xã hội, ý nghĩa và thành tựu của người học vào tiêu chí đánh giá chất lượng các chương trình có ứng dụng công nghệ, thay vì chỉ tập trung vào số lượng thiết bị hoặc kết quả kiểm tra.
Thứ hai, nghiên cứu cung cấp định hướng cho cơ sở đào tạo giáo viên, nhà thiết kế chương trình và giảng viên trong việc lựa chọn và tổ chức công cụ theo chức năng sư phạm cụ thể. Các nhiệm vụ học tập nên tạo cho người học cơ hội luyện tập ít áp lực, luyện tập riêng tư trước khi trình bày công khai, phản hồi tức thì và minh bạch, học theo nhịp độ phù hợp, sử dụng nguồn ngữ liệu xác thực, hợp tác với bạn học và theo dõi tiến bộ có ý nghĩa. Giảng viên cần duy trì sự hiện diện, hỗ trợ cảm xúc và phản hồi mang tính xây dựng trong môi trường trực tuyến; đồng thời thiết kế hoạt động gắn với mục tiêu học tập, nghề nghiệp và tình huống giao tiếp thực tế để người học nhận thấy giá trị của tiếng Anh ngoài phạm vi điểm số.
Thứ ba, các phát hiện có thể được sử dụng để xây dựng hướng dẫn sử dụng công cụ công nghệ nói chung và AI, các công cụ dịch nói riêng. Người học cần được hướng dẫn phân biệt giữa sử dụng AI để tạo khung sườn (scaffold), luyện tập và tự kiểm tra với việc dùng AI để thay thế hoàn toàn quá trình tư duy và tái tạo ngôn ngữ. Bên cạnh đó, các cơ sở đào tạo nên hỗ trợ người học quản lý sự xao nhãng số, điều tiết thời gian, kiểm chứng phản hồi tự động và phát triển năng lực tự học. Việc kết hợp giữa hỗ trợ của công nghệ với tương tác thực chất của giảng viên và bạn học sẽ giúp khai thác lợi ích của công nghệ, đồng thời giảm thiểu những tác động bất lợi đối với tâm lý học tích cực và kết quả học tập.
13. Định hướng nghiên cứu tiếp theo:
Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đối tượng tham gia sang sinh viên chuyên Anh, người học ở các trình độ khác nhau và người học tại nhiều cơ sở, vùng miền hoặc bối cảnh văn hóa – giáo dục khác nhau. Các nghiên cứu so sánh liên trường, nghiên cứu hỗn hợp và nghiên cứu dọc cần được tiến hành để kiểm tra mức độ ổn định của các phát hiện, theo dõi sự thay đổi của các thành tố PERMA theo thời gian và làm rõ hơn mối quan hệ tương tác giữa cảm xúc tích cực, sự tham kết, các mối quan hệ, ý nghĩa và thành tựu. Ngoài câu chuyện kể và phỏng vấn, nghiên cứu tương lai có thể kết hợp nhật ký học tập, quan sát, kết quả học tập và dữ liệu dấu vết số để tăng cường sự đối chiếu dữ liệu.
Các nghiên cứu tiếp theo cũng cần tập trung vào từng loại công cụ và từng cơ chế tác động cụ thể, đặc biệt là AI tạo sinh, hệ thống học thích ứng, công nghệ nhập vai và các nền tảng đánh giá tự động. Cần nghiên cứu sâu hơn sự khác biệt giữa việc dùng AI để tạo khung sườn (scaffold), để luyện tập và để “đi tắt” quá trình học; đồng thời xem xét ảnh hưởng của sự hiện diện giảng viên, thiết kế nhiệm vụ, tính minh bạch của đánh giá, năng lực số, điều kiện hạ tầng và hoàn cảnh kinh tế – xã hội. Các nghiên cứu can thiệp có đối chứng có thể được triển khai để xác định những nguyên tắc thiết kế công nghệ và sư phạm có hiệu quả nhất trong việc nâng cao đồng thời năng lực ngôn ngữ và sự phát triển tâm lý tích cực của người học.
14. Các công trình đã công bố có liên quan đến luận án:
Nguyễn Văn Thắng & Nguyễn Thị Thanh Hà (2021). Tác động của học ngôn ngữ có sự hỗ trợ của thiết bị di động (MALL) đến việc tiếp thu từ vựng của sinh viên năm thứ nhất và quan điểm của họ. Trong V. P. H. Pham, A.-P. Lian, & A. B. Lian (Chủ biên), Kỷ yếu Hội thảo Quốc tế lần thứ 18 của Hiệp hội Học ngôn ngữ có sự hỗ trợ của máy tính châu Á (AsiaCALL–2-2021) (Tập 621, tr. 278–290). Atlantis Press. https://doi.org/10.2991/assehr.k.211224.027
Nguyễn Văn Thắng (2022). Tổng quan về tâm lý học tích cực trong tiếp thu ngôn ngữ thứ hai. Trong Kỷ yếu Hội thảo Nghiên cứu Sau đại học Quốc tế năm 2022 (tr. 947–957). Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguyễn Văn Thắng (2023). Nhận thức của sinh viên về tâm lý học tích cực trong việc học tiếng Anh tại Trường Đại học Thành Đông. Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, 39(6), 100–124. https://doi.org/10.63023/2525-2445/jfs.ulis.5141
Nguyễn Văn Thắng & Trần Thị Thu Hoài (2024). Tác động của cảm xúc tích cực đến việc học tiếng Anh tại Trường Đại học Thành Đông. Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, 40(6), 132–151. https://doi.org/10.63023/2525-2445/jfs.ulis.5241
Nguyễn Văn Thắng (2025). Tác động của công cụ công nghệ đến sự tham gia học tập của sinh viên đại học dưới góc nhìn tâm lý học tích cực. Tạp chí Nghiên cứu Nước ngoài, 41(4), 135–150. https://doi.org/10.63023/2525-2445/jfs.ulis.5469
Nguyễn Văn Thắng & Nguyễn Thị Kiều Oanh (2026). Triển khai các can thiệp tâm lý học tích cực nhằm nâng cao năng lực nói tiếng Anh của sinh viên tại Trường Đại học Thành Đông. Frontiers in Education, 10, Bài báo 1698998. https://doi.org/10.3389/feduc.2025.1698998
Ngày 25 tháng 06 năm 2026
Nghiên cứu sinh
Nguyễn Văn Thắng
DOCTORAL THESIS INFORMATION
1. Full name: Nguyen Van Thang
2. Gender: Male
3. Date of birth: 30 May 1988
4. Place of birth: Hai Phong
5. Admission Decision number: 2326/QĐ-ĐHNN dated 21/12/2020 by the Rector of University of Languages and International Studies
6. Changes in academic process:
– Decision No. 865/QĐ-ĐHNN issued by the Rector of University of Languages and International Studies dated 18/04/2022 on change in the name of doctoral thesis; and Decision No. 1348/QĐ-ĐHNN issued by the Rector of University of Languages and International Studies dated 06/07/2022 on change in the name of doctoral thesis
– Decision No. 2286/QĐ-ĐHNN issued by the Rector of University of Languages and International Studies dated 15/11/2024 on extension of doctoral study (from December- 2024 to December- 2026).
7. Doctoral thesis title: Exploring Tertiary EFL Learners’ Experiences with Technological Tools in their Foreign Language Learning: A Positive Psychology Perspective
8. Major: Theory and Methodology of English Language Teaching
9. Code: 9140231.01
10. Academic supervisors: 1. Prof. Dr. Hoang Van Van
2. Dr. Huynh Anh Tuan
11. Summary of the new findings of the thesis:
The findings show that technological tools can simultaneously foster all five components of positive psychology in the PERMA model (Seligman, 2011): Positive Emotions, Engagement, Relationships, Meaning, and Accomplishment. Multimedia resources, gamified activities, and edutainment content evoke enjoyment, curiosity, and interest while reducing anxiety and boredom. Flexible access, private practice in low-risk environments, control over the learning pace, immediate feedback, and personalised support enhance learners’ confidence, help them sustain attention, establish learning habits, and regulate their own learning. Online platforms and collaborative spaces extend teacher presence, facilitate peer collaboration and reciprocal support, and thereby strengthen learners’ sense of belonging. At the same time, authentic input, opportunities to use English in real-life situations, and connections to academic and future career goals make learning more meaningful, while progress indicators, feedback, and learning products enable learners to recognise their development and experience a sense of accomplishment.
A key finding is that positive effects do not arise merely from the presence or use of technology. Rather, they are generated by specific pedagogical mechanisms and conditions afforded by the tools, including low-stakes practice, private rehearsal, learner autonomy, timely feedback, authentic input, social interaction, and visible progress. These mechanisms often operate in a cascading manner across the PERMA components: positive emotions can broaden learners’ willingness to participate; sustained engagement creates conditions for progress; and recognised progress, in turn, reinforces confidence, meaning, and motivation to continue learning. The thesis also clarifies the distinction between momentary positive emotions and affective engagement as a sustained state of involvement, thereby avoiding the conflation of temporary enjoyment with enduring engagement in learning.
The findings also reveal the dual (facilitative and impeditive), conditional, and context-dependent nature of technological tool use. Technical and infrastructural failures initially generate anxiety, frustration, and disrupted concentration, and may subsequently weaken interaction, learning meaning, and perceived accomplishment. Attention fragmentation, digital distraction, and cognitive overload reduce engagement; deficits in social presence and coordination difficulties undermine relationships and positive emotions; and opaque assessment criteria, data loss, or interrupted submissions may cause outcomes to reflect technical conditions rather than actual language ability. In particular, AI and translation tools can provide scaffolding and rehearsal when used purposefully, but they can also become a means of bypassing learning and substituting for cognitive effort when learners become over-reliant on them, thereby reducing learning depth, meaning, and genuine accomplishment. These findings offer a comprehensive, mechanism-based account of how technology can both foster and impede the positive psychology of non-major EFL learners in Vietnamese higher education.
12. Practical applicability, if any:
This study can inform the integration of technological tools into English language teaching and learning for non-major students at Vietnamese higher education institutions in ways that improve learning effectiveness while also promoting learners’ positive psychological development.
First, the findings provide a reference base for policymakers and educational administrators in developing digital learning ecosystems capable of supporting the PERMA components. Investment in infrastructure, equitable access, timely technical support, and digital competence should be accompanied by the inclusion of indicators of learners’ positive emotions, engagement, social connectedness, meaning, and accomplishment in quality-assurance criteria for technology-enhanced programmes, rather than relying solely on device counts or test results.
Second, the study provides guidance for teacher education institutions, curriculum designers, and teachers in selecting and organising tools according to specific pedagogical functions. Learning tasks should offer opportunities for low-stakes practice, private rehearsal before public performance, immediate and transparent feedback, appropriately paced learning, engagement with authentic input, peer collaboration, and meaningful progress monitoring. Teachers should maintain presence, emotional support, and constructive feedback in online environments. They should also design activities connected to academic goals, future careers, and authentic communicative situations so that learners can recognise the value of English beyond grades.
Third, the findings can inform guidelines for the use of technological tools in general and AI and translation tools in particular. Learners need guidance in distinguishing between using AI for scaffolding, rehearsal, and self-checking, and using it to replace the processes of thinking and language production altogether. Institutions should also help learners manage digital distraction, regulate their time, critically verify automated feedback, and develop autonomous learning competence. Combining technological support with substantive interaction with teachers and peers can maximise the benefits of technology while minimising adverse effects on positive psychology and learning outcomes.
13. Further research directions, if any:
Future research may extend participation to English-major students, learners at different proficiency levels, and learners across multiple institutions, regions, and sociocultural and educational contexts. Cross-institutional comparative studies, mixed-methods studies, and longitudinal research are needed to test the robustness of the findings, trace changes in the PERMA components over time, and further clarify the interactions among positive emotions, engagement, relationships, meaning, and accomplishment. In addition to narratives and interviews, future studies could combine learning diaries, observations, learning outcomes, and digital trace data to strengthen triangulation.
Future research should also focus on individual tool types and specific mechanisms of influence, particularly generative AI, adaptive learning systems, immersive technologies, and automated assessment platforms. Further investigation is needed into the distinctions among using AI for scaffolding, rehearsal, and bypassing learning, as well as the effects of teacher presence, task design, assessment transparency, digital competence, infrastructure, and socioeconomic circumstances. Controlled intervention studies could be conducted to identify the technological and pedagogical design principles that most effectively enhance both language competence and learners’ positive psychological development.
14. Thesis-related publications:
Nguyen Van Thang, & Nguyen Thi Thanh Ha (2021). The impacts of mobile-assisted language learning (MALL) on freshmen’s vocabulary acquisition and their perspectives. In V. P. H. Pham, A.-P. Lian, & A. B. Lian (Eds.), Proceedings of the 18th International Conference of the Asia Association of Computer-Assisted Language Learning (AsiaCALL–2-2021) (Vol. 621, pp. 278–290). Atlantis Press. https://doi.org/10.2991/assehr.k.211224.027
Nguyen Van Thang (2022). An overview of positive psychology in second language acquisition. In Proceedings of the 2022 International Graduate Research Symposium (pp. 947–957). University of Languages and International Studies, VNU: Vietnam National University Press, Hanoi. ISBN 9786043848311
Nguyen Van Thang (2023). Students’ perceptions on positive psychology in English learning at Thanh Dong University. VNU Journal of Foreign Studies, 39(6), 100–124. https://doi.org/10.63023/2525-2445/jfs.ulis.5141
Nguyen Van Thang & Tran Thi Thu Hoai (2024). The impacts of positive emotions on English language learning at Thanh Dong University. VNU Journal of Foreign Studies, 40(6), 132–151. https://doi.org/10.63023/2525-2445/jfs.ulis.5241
Nguyen Van Thang (2025). The impact of digital tools on EFL tertiary students’ engagement from a positive psychological perspective. VNU Journal of Foreign Studies, 41(4), 135–150. https://doi.org/10.63023/2525-2445/jfs.ulis.5469
Nguyen Van Thang & Nguyen Thi Kieu Oanh (2026). Implementing positive psychology interventions to promote students’ English speaking performance at Thanh Dong University. Frontiers in Education, 10, 2025. eISSN 2504-284X, ESCI, Scopus Q1 (SJR, 2025). https://doi.org/10.3389/feduc.2025.1698998
Date 25 June 2026
Doctoral Candidate
Nguyen Van Thang
